28/03/2026
Tu Hành hay Chạy Theo Ảo Ảnh?” True Practice or the Pursuit of Illusion
Is my practice free of ‘mind effort’? Am I haunted by the ghost of ‘form and substance’?
Is my blissful and rapturous Samadhi A delusive state defiled by ‘grasping-craving’? Have I been shackled by the laws of form \Vithout grace and blessing?
vVhen I meditate on the identity of manifestation and Guru12
Does my Awareness wander?
When I illustrate the truth through Tantric symbols,
I taught the Truth beyond all symbols? Have I polluted with ‘intentional effort,’ and distorted,
The originally pure Self-mind? Have I done that which I willed In a way that righteous Lamas ne’er behave?
I ever ask myself: ‘Am I aware
That wordly prosperity and achievements
Are but the hindrances set up by devils?’ ” If you do not understand or practice
The teaching of a Lineage with grace,
The devils will mislead you with their art. Then you will never free yourself
From the realms of misery and Sa111sara. Rely then on a genuine
Lineage, and practice Your devotion without craving and self-indulgence.
Vi:
Hãy lắng nghe, hỡi bậc thầy vĩ đại!
Thật khó mà giúp đỡ người khác
Nếu chính mình chưa từ bỏ thế gian này.
Nếu bạn chưa chứng ngộ rằng Luân hồi (Saṃsāra) và Niết-bàn (Nirvāṇa) là một,
Mà chỉ giữ một ý niệm mơ hồ, lờ mờ trong tâm,
Thì bạn sẽ buông mình theo dục lạc,
Và bị cuốn trôi bởi dòng thác của Tám dục vọng.
(Hãy tự quán chiếu và tự hỏi mình):
“Ta đã chứng ngộ chân lý Hai trong Một, vượt ngoài mọi cực đoan chưa?
Hay ta đã rơi vào bốn biên kiến?
Sự tu hành của ta có thoát khỏi mọi nỗ lực của tâm chưa?
Hay ta vẫn bị ám ảnh bởi bóng ma của hình tướng và thực thể?
Định lạc và niềm hỷ lạc của ta
Có phải chỉ là trạng thái mê lầm, bị nhiễm ô bởi chấp thủ và tham ái?
Ta có bị trói buộc bởi luật lệ của hình tướng
Mà thiếu đi ân phước gia trì không?
Khi ta thiền quán về sự đồng nhất giữa hiện tượng và vị Thầy (Guru),
Tâm giác của ta có lang thang không?
Khi ta dùng biểu tượng Mật thừa để minh họa chân lý,
Ta có thực sự dạy chân lý vượt ngoài mọi biểu tượng không?
Ta có làm ô nhiễm, bóp méo
Tự tâm vốn thanh tịnh nguyên sơ
Bởi sự dụng công có ý thức không?
Ta có hành xử theo ý riêng mình
Theo cách mà các bậc Lama chân chính không bao giờ làm không?
Ta đã từng tự hỏi:
‘Ta có nhận ra rằng phú quý thế gian và mọi thành tựu
Chỉ là những chướng ngại do ma tạo ra?’
Nếu bạn không hiểu và không thực hành
Giáo pháp của một dòng truyền thừa chân chính với gia trì,
Thì ma lực sẽ dẫn dắt bạn bằng những mánh khóe của chúng.
Và rồi bạn sẽ không bao giờ giải thoát
Khỏi cõi khổ đau và luân hồi.
Vì vậy, hãy nương tựa nơi một dòng truyền thừa chân thật,
Và thực hành lòng sùng kính
Không vướng mắc, không buông thả theo dục vọng.”
1) “Thật khó mà giúp đỡ người khác nếu chính mình chưa từ bỏ thế gian này.”
“It is hard to help others if one does not renounce this world.”
Việt:
Ở đây, “từ bỏ thế gian” không nhất thiết chỉ có nghĩa là rời bỏ nhà cửa hay xã hội. Trong nghĩa sâu hơn của Mahamudra và Dzogchen, đó là từ bỏ sự bám chấp vào thế gian như một điều thật có, đáng nắm giữ, đáng theo đuổi để tìm hạnh phúc tối hậu.
Nếu trong tâm vẫn còn tin rằng danh vọng, sự công nhận, khoái lạc giác quan, hay thành công bên ngoài có thể đem lại sự viên mãn rốt ráo, thì ngay cả khi nói về Pháp, ta vẫn đang nói từ chỗ bị điều kiện hóa bởi vô minh.
Người chưa thực sự buông xả thường muốn “giúp người” theo cách rất vi tế để nuôi cái tôi:
• muốn được nhìn nhận là người hiểu biết,
• muốn được tôn trọng như người hướng dẫn,
• muốn có ảnh hưởng,
• hoặc muốn cảm thấy mình quan trọng.
Vì vậy, câu này là lời cảnh báo: trước khi cứu người khác khỏi dòng nước, hãy chắc rằng chính mình chưa bị dòng nước cuốn đi.
English:
Here, “renouncing the world” does not necessarily mean physically leaving society. In a deeper Dzogchen or Mahamudra sense, it means renouncing clinging to worldly life as ultimately real, reliable, or capable of giving lasting fulfillment.
If one still believes that status, praise, sensory pleasure, or outer success can provide final happiness, then even one’s Dharma teaching is still being shaped by ignorance.
A person who has not truly let go may try to “help others” in subtle ego-driven ways:
to be admired, respected, influential, or inwardly reassured of their own importance.
So this line is a warning: before trying to pull others from the river, make sure you yourself are not being swept away by it.
⸻
2) “Nếu bạn chưa chứng ngộ rằng Luân hồi và Niết-bàn là một…”
“If you do not realize Samsara and Nirvana are one…”
Việt:
Đây là câu rất sâu, rất gần với tinh thần Dzogchen.
Nó không có nghĩa là luân hồi và niết-bàn giống nhau ở mức độ mê lầm thông thường. Nó có nghĩa rằng nền tảng tối hậu của cả hai là một thực tại duy nhất.
• Khi không nhận ra bản tánh tâm, thực tại ấy được kinh nghiệm như luân hồi.
• Khi nhận ra bản tánh tâm, cùng thực tại ấy hiển lộ như niết-bàn.
Giống như:
• một sợi dây trong bóng tối bị tưởng là con rắn;
• khi chưa thấy đúng, có sợ hãi;
• khi thấy đúng, không còn rắn nào phải diệt riêng.
Luân hồi không phải là một vật gì độc lập phải bị đập vỡ từ bên ngoài. Nó là sự hiểu lầm về nền tảng. Niết-bàn không phải là một nơi chốn mới để đi đến. Nó là sự nhận ra cái vốn đã là như vậy.
Theo Mahamudra:
tâm mê và tâm ngộ không phải hai bản thể khác nhau; khác biệt nằm ở chỗ có nhận ra hay không.
English:
This is a very profound line, deeply resonant with Dzogchen.
It does not mean that samsara and nirvana are the same on the ordinary level of confusion. It means that their ultimate ground is one reality.
• When the nature of mind is not recognized, that same ground is experienced as samsara.
• When it is recognized, that same ground appears as nirvana.
Like mistaking a rope for a snake in the dark:
fear arises from misperception, not from an actual snake that must later be destroyed.
Samsara is not an independently existing thing to be smashed from outside. It is misreading the ground. Nirvana is not somewhere else to reach. It is recognition of what has always been so.
In Mahamudra terms:
the deluded mind and awakened mind are not two different substances; the difference is whether there is recognition.
⸻
3) “Chỉ giữ một ý niệm mơ hồ trong tâm…”
“And hold a faint idea but dimly in your mind…”
Việt:
Đây là lời phê bình rất mạnh đối với hiểu biết bằng khái niệm.
Nhiều người có thể nói:
• “mọi pháp là không,”
• “luân hồi tức niết-bàn,”
• “mọi sự đều là tâm,”
nhưng chỉ hiểu như một ý tưởng đẹp.
Trong Dzogchen và Mahamudra, biết bằng chữ nghĩa không phải là thấy.
Một ý niệm mơ hồ về chân lý không đủ sức giải thoát khổ đau khi vọng tưởng, tham ái, sợ hãi, và bản ngã nổi lên.
Bạn có thể nói rất hay về tánh không, nhưng khi bị xúc phạm thì vẫn nổi giận.
Bạn có thể giảng về vô ngã, nhưng khi mất danh dự thì vẫn đau đớn.
Điều đó cho thấy chân lý chưa trở thành kinh nghiệm sống.
English:
This is a sharp critique of merely conceptual understanding.
Many people can say:
• “all phenomena are empty,”
• “samsara is nirvana,”
• “everything is mind,”
yet hold these only as refined ideas.
In Dzogchen and Mahamudra, knowing the words is not the same as seeing directly.
A dim conceptual notion of truth is not strong enough to liberate suffering when craving, fear, ego, and reactivity arise.
One may speak beautifully of emptiness, yet become angry when criticized.
One may lecture on selflessness, yet suffer deeply when status is threatened.
That shows that truth has not yet become lived realization.
⸻
4) “Bạn sẽ bị cuốn trôi bởi dòng thác của Tám dục vọng.”
“And be carried away by the torrent of Eight Desires.”
Việt:
“Tám dục vọng” ở đây có thể được hiểu gần với bát phong của đời sống thế gian:
• được / mất,
• khen / chê,
• danh tiếng / tiếng xấu,
• vui / khổ.
Khi chưa an trụ trong bản tánh tâm, con người bị tám ngọn gió này thổi đi không ngừng.
Hôm nay được khen thì vui.
Ngày mai bị chê thì khổ.
Có lợi lộc thì hứng khởi.
Mất mát thì tuyệt vọng.
Theo Mahamudra, đây là dấu hiệu tâm còn đặt hạnh phúc ở điều kiện bên ngoài.
Theo Dzogchen, đây là dấu hiệu chưa an trụ trong tự giải thoát: hiện tượng vừa khởi lên đã bị bám lấy hoặc xua đuổi.
English:
The “Eight Desires” here can be understood much like the eight worldly winds:
gain and loss,
praise and blame,
fame and disgrace,
pleasure and pain.
Without stability in the nature of mind, one is endlessly blown around by these winds.
Praised today, one rejoices.
Blamed tomorrow, one collapses.
When gain appears, excitement comes.
When loss comes, despair follows.
In Mahamudra, this shows a mind that still places happiness in outer conditions.
In Dzogchen, it shows failure to rest in self-liberation, where appearances arise without being grasped or rejected.
⸻
5) “Ta đã chứng ngộ chân lý Hai trong Một, vượt ngoài mọi cực đoan chưa?”
“Have I realized the truth of Two-in-One which is beyond extremes?”
Việt:
“Hai trong Một” là một cách diễn đạt rất đẹp của chân lý bất nhị:
• hiện và không,
• sáng tỏ và rỗng rang,
• xuất hiện và tánh không,
• biết và không có người biết tách rời.
Đây là tinh thần cốt lõi của Dzogchen và Mahamudra:
Tâm có tính biết sáng tỏ, nhưng không có tự thể cố định.
Các hiện tượng xuất hiện rõ ràng, nhưng không có thực thể độc lập.
Nếu nghiêng về “có thật” → rơi vào thường kiến.
Nếu nghiêng về “không có gì cả” → rơi vào đoạn kiến.
Nhận ra “Hai trong Một” là thoát cả hai cực đoan.
English:
“Two-in-One” is a beautiful expression of nonduality:
appearance and emptiness,
clarity and openness,
manifestation and emptiness,
knowing and the absence of a separate knower.
This is central to Dzogchen and Mahamudra:
mind is vividly cognizant, yet empty of fixed essence.
Phenomena appear clearly, yet lack independent reality.
To lean toward real existence is eternalism.
To lean toward nothingness is nihilism.
To realize the “Two-in-One” is to go beyond both extremes.
⸻
6) “Hay ta đã rơi vào bốn biên kiến?”
“Or have I thrown myself over the Four Edges?”
Việt:
“Bốn biên” thường ám chỉ các cực đoan của tư tưởng:
• có,
• không,
• vừa có vừa không,
• không phải có cũng không phải không.
Ở đây, ý chính là: ta có thực sự thoát khái niệm chưa, hay chỉ mắc kẹt trong một hệ thống triết học tinh vi hơn?
Trong kinh nghiệm thiền định, điều này rất quan trọng.
Nhiều người tưởng mình đang ở trong trí tuệ, nhưng thật ra chỉ đang ở trong một quan điểm tinh tế của tâm thức.
English:
The “Four Edges” usually refer to the classic extremes of conceptual fixation:
existence,
non-existence,
both,
neither.
The essential point here is: have I gone beyond conceptual fixation, or am I merely trapped in a subtler philosophy?
In meditation this matters greatly.
Many think they are resting in wisdom, while actually remaining within a refined mental view.
⸻
7) “Sự tu hành của ta có thoát khỏi mọi nỗ lực của tâm chưa?”
“Is my practice free of mind effort?”
Việt:
Đây là câu rất Dzogchen.
“Mọi nỗ lực của tâm” ở đây không có nghĩa là hoàn toàn không cần tinh tấn. Nó có nghĩa là không dùng tâm tạo tác để ép buộc tâm trở thành một trạng thái đặc biệt.
Có hai giai đoạn:
• lúc đầu vẫn cần tinh tấn, chánh niệm, quay về;
• nhưng khi đi sâu, hành giả phải học cách an trú không gò ép, không cố “làm ra giác ngộ”.
Mahamudra thường nhấn mạnh:
đừng sửa tâm quá nhiều; hãy nhận ra nó.
Dzogchen nhấn mạnh:
đừng tạo một trạng thái thiền; hãy nhận ra rigpa.
English:
This is a very Dzogchen-like question.
“Mind effort” does not mean no discipline is needed at all. It means not using fabricated mind to force mind into a special state.
There are stages:
• at first, effort, mindfulness, and returning are needed;
• later, one must learn to rest without contrivance, without trying to manufacture awakening.
Mahamudra often says:
do not overly correct mind; recognize it.
Dzogchen says:
do not produce a meditative state; recognize rigpa.
⸻
8) “Ta vẫn bị ám ảnh bởi bóng ma của hình tướng và thực thể?”
“Am I haunted by the ghost of form and substance?”
Việt:
“Bóng ma” là chữ rất hay. Vì chấp tướng thường không còn thô, mà rất vi tế.
Bạn có thể không chấp vật chất thô nữa, nhưng vẫn chấp:
• “ta là người đang thiền,”
• “ta có kinh nghiệm này,”
• “ta đang tiến bộ,”
• “đây là trạng thái cao.”
Đó là “bóng ma của thực thể”: một cảm giác rất vi tế rằng có một cái gì đó thật sự hiện hữu để nắm lấy.
Trong Mahamudra, ngay cả kinh nghiệm sáng rõ, an lạc, vô niệm cũng phải được thấy là không có tự tính. Nếu không, chúng trở thành chỗ bám mới.
English:
“Ghost” is a brilliant word here, because fixation often becomes subtle rather than gross.
One may no longer cling to outer material things, yet still cling to:
• “I am the meditator,”
• “I had this experience,”
• “I am progressing,”
• “this is a high state.”
That is the “ghost of substance”: the subtle sense that there is something truly existing to hold onto.
In Mahamudra, even clarity, bliss, and nonthought must be seen as empty of self-nature. Otherwise they become new objects of attachment.
⸻
9) “Định lạc và niềm hỷ lạc của ta có phải chỉ là trạng thái mê lầm…?”
“Is my blissful and rapturous Samadhi a delusive state…?”
Việt:
Đây là một cảnh báo cực kỳ quan trọng.
Trong thiền, có thể phát sinh:
• hỷ lạc,
• sáng rõ,
• nhẹ nhàng,
• không vọng tưởng mạnh,
• cảm giác rộng mở.
Nhưng những điều này chưa đủ để gọi là giác ngộ.
Nếu còn bám vào chúng, muốn lặp lại chúng, tự hào về chúng, hoặc dùng chúng để khẳng định “ta đã đạt,” thì đó vẫn là mê lầm.
Dzogchen và Mahamudra luôn nhắc:
kinh nghiệm không phải cứu cánh; nhận ra bản tánh của kinh nghiệm mới là cốt lõi.
English:
This is an extremely important warning.
Meditation can produce:
• bliss,
• clarity,
• lightness,
• fewer thoughts,
• vast openness.
But these are not yet awakening.
If one clings to them, wants to repeat them, feels proud of them, or uses them to confirm “I have attained,” then delusion remains.
Dzogchen and Mahamudra constantly remind us:
experience is not the goal; recognizing the nature of experience is the key.
⸻
10) “Khi ta thiền quán về sự đồng nhất giữa hiện tượng và Guru, tâm giác của ta có lang thang không?”
“When I meditate on the identity of manifestation and Guru, does my Awareness wander?”
Việt:
Đây là điểm rất đẹp của Mật thừa.
“Hiện tượng và Guru là một” không chỉ có nghĩa là nhìn Thầy bên ngoài như thiêng liêng, mà sâu hơn là thấy rằng:
mọi hiện khởi đều là sự hiển lộ của trí tuệ giác ngộ.
Nhưng bài ca hỏi rất thẳng:
khi quán như vậy, tâm có thật sự tỉnh giác không?
Hay chỉ đang lập lại một công thức đẹp bằng đầu óc?
Trong Dzogchen, nếu mọi hiện tượng là hiển lộ của rigpa, thì điểm chính không phải ở câu chữ, mà ở sự nhận biết sống động ngay trong khoảnh khắc hiện tiền.
English:
This is a beautiful tantric point.
“The identity of manifestation and Guru” does not only mean revering an outer teacher. More deeply, it points to seeing that:
all appearances are the display of awakened wisdom.
But the song asks bluntly:
when I meditate that way, is awareness actually present?
Or am I merely repeating a sacred formula mentally?
In Dzogchen, if all appearances are the display of rigpa, the point is not the phrase itself but living recognition in the immediacy of experience.
⸻
11) “Khi ta dùng biểu tượng Mật thừa để minh họa chân lý, ta có dạy chân lý vượt ngoài mọi biểu tượng không?”
“When I illustrate the truth through Tantric symbols, have I taught the Truth beyond all symbols?”
Việt:
Biểu tượng Mật thừa rất quý: thần chú, bổn tôn, ánh sáng, kinh mạch, chủng tự…
Nhưng tất cả chỉ là phương tiện thiện xảo.
Nếu người dạy chỉ dừng ở biểu tượng mà quên mất điều biểu tượng đang chỉ đến, thì hình thức sẽ che mất tinh túy.
Giống như ngón tay chỉ mặt trăng:
ngón tay cần thiết, nhưng không phải là mặt trăng.
Trong Dzogchen, mọi biểu tượng rốt cuộc phải tan vào tánh giác trực tiếp.
Nếu không, người tu chỉ tích lũy ngôn ngữ linh thiêng, chứ chưa thật sự chạm vào bản tâm.
English:
Tantric symbols are precious: mantras, deities, lights, channels, seed syllables.
But they are all skillful means.
If the teacher stops at the symbol and forgets what it points to, form veils essence.
Like a finger pointing to the moon:
the finger matters, but it is not the moon.
In Dzogchen, all symbols must finally dissolve into direct awareness itself.
Otherwise, one collects sacred language without actually touching the nature of mind.
⸻
12) “Ta có làm ô nhiễm tự tâm vốn thanh tịnh nguyên sơ bởi sự dụng công có ý thức không?”
“Have I polluted the originally pure Self-mind through intentional effort?”
Việt:
Đây là một câu rất tinh tế.
“Tự tâm vốn thanh tịnh nguyên sơ” là cách nói rất gần với bản giác, rigpa, hay Phật tánh.
Không phải ta tạo ra nó. Nó vốn đã ở đó.
Nhưng khi ta cố sửa, cố nắm, cố tạo ra một “trạng thái đúng,” thì ta vô tình phủ thêm lên bản tâm những lớp nhân tạo.
Đây không phải là phủ nhận tu tập, mà là nhắc rằng tu tập chân chính cuối cùng phải là gỡ bỏ che chướng, không phải chế tạo giác ngộ.
English:
This is a very subtle line.
“The originally pure self-mind” points closely to primordial awareness, rigpa, or Buddha-nature.
It is not something we create; it is already present.
But when we keep trying to fix, grasp, and manufacture the “right” state, we overlay the natural mind with artificial layers.
This is not a rejection of practice, but a reminder that true practice is ultimately uncovering, not manufacturing awakening.
⸻
13) “Phú quý thế gian và mọi thành tựu chỉ là những chướng ngại do ma tạo ra.”
“Worldly prosperity and achievements are but hindrances set up by devils.”
Việt:
Câu này không có nghĩa mọi thành công thế gian đều xấu.
Ý sâu hơn là: bất cứ điều gì làm bạn quên mất mục đích giải thoát đều có thể trở thành ma chướng.
“Ma” ở đây nhiều khi không phải là một thực thể bên ngoài, mà là:
• kiêu mạn,
• đắm nhiễm,
• tự mãn,
• say mê danh tiếng,
• đồng nhất mình với vai trò “người tu”, “người dạy”, hay “người có sở đắc”.
Điều nguy hiểm là những thứ này thường xuất hiện dưới hình thức rất đẹp, rất đáng ngưỡng mộ.
Cho nên bài ca không chỉ cảnh báo thất bại, mà còn cảnh báo thành công.
English:
This does not mean that all worldly success is evil.
The deeper meaning is: anything that makes you forget liberation can become a demon’s obstacle.
“Devils” here often need not be literal external beings; they can be:
• pride,
• intoxication with success,
• self-satisfaction,
• attachment to fame,
• identification with being “a practitioner,” “a teacher,” or “an accomplished one.”
The danger is that these often arise in noble-looking forms.
So the song warns not only about failure, but also about success.
⸻
14) “Hãy nương tựa nơi một dòng truyền thừa chân thật…”
“Rely then on a genuine Lineage…”
Việt:
Tại sao bài ca kết lại ở đây?
Vì khi thực hành những pháp sâu như Mahamudra hay Dzogchen, hành giả rất dễ:
• tự lừa mình,
• hiểu sai kinh nghiệm,
• chấp vào trạng thái tạm thời,
• hoặc lấy tư tưởng của mình làm chân lý.
Dòng truyền thừa chân thật là điều giữ cho con đường sống động, đúng hướng, và có gia trì.
“Gia trì” ở đây không chỉ là một sức mạnh huyền bí từ bên ngoài, mà còn là sự đánh thức trực tiếp truyền từ kinh nghiệm sống của bậc giác ngộ sang tâm người học.
English:
Why does the song end here?
Because in profound paths like Mahamudra or Dzogchen, one can easily:
• deceive oneself,
• misread experiences,
• cling to temporary states,
• or mistake one’s own ideas for realization.
A genuine lineage keeps the path alive, accurate, and blessed.
“Blessing” here is not only mystical force from outside, but also direct awakening influence transmitted from lived realization to the student’s mind.
⸻
15) “Hãy thực hành lòng sùng kính không vướng mắc, không buông thả theo dục vọng.”
“Practice your devotion without craving and self-indulgence.”
Việt:
Đây là đoạn kết rất đẹp.
Sùng kính chân thật không phải là cảm xúc mù quáng, cũng không phải nịnh bợ Thầy.
Nó là mở lòng hoàn toàn đối với chân lý, đến mức cái tôi mềm ra, bớt chống cự, bớt tự dựng lập.
Nhưng nếu sùng kính bị lẫn với tham ái, lệ thuộc cảm xúc, hay tìm kiếm an ủi cá nhân, thì nó lại trở thành một hình thức bám chấp khác.
Cho nên bài ca kết rất quân bình:
• cần truyền thừa,
• cần gia trì,
• cần sùng kính,
nhưng tất cả phải đi cùng không chấp thủ.
English:
This is a beautiful ending.
True devotion is not blind emotion, nor flattery toward a teacher.
It is complete openness to truth, such that ego softens, resistance loosens, and self-fabrication relaxes.
But if devotion becomes mixed with craving, emotional dependency, or self-soothing attachment, then it becomes another form of grasping.
So the ending is beautifully balanced:
• lineage is needed,
• blessing is needed,
• devotion is needed,
but all of it must be joined with non-attachment.
⸻
Tóm ý toàn bài
Overall Essence of the Song
Việt:
Toàn bài là một lời cảnh tỉnh rất mạnh dành cho người tu hành, nhất là người đang đi vào con đường sâu.
Thông điệp chính là:
1. Đừng nhầm ý niệm với chứng ngộ.
2. Đừng nhầm kinh nghiệm thiền với giải thoát.
3. Đừng nhầm biểu tượng với chân lý.
4. Đừng nhầm thành công thế gian hay thành công tâm linh với giác ngộ.
5. Phải luôn tự quán chiếu, luôn kiểm tra động cơ, luôn nương nơi truyền thừa chân thật.
English:
The whole song is a powerful warning for practitioners, especially those on profound paths.
Its core message is:
1. Do not mistake concept for realization.
2. Do not mistake meditative experience for liberation.
3. Do not mistake symbols for truth.
4. Do not mistake worldly or spiritual success for awakening.
5. Continually examine yourself, your motivation, and rely on a genuine lineage.
⸻
Một câu kết theo tinh thần Dzogchen / Mahamudra
A Closing Line in the Spirit of Dzogchen / Mahamudra
Việt:
Bài ca này nhắc ta rằng:
điều nguy hiểm nhất trên đường tu không phải chỉ là vọng tưởng thô, mà là sự tự lừa dối rất vi tế khi ta tưởng mình đã thấy, đã đạt, đã hiểu.
English:
This song reminds us that:
the greatest danger on the path is not only coarse distraction, but subtle self-deception—the belief that one has already seen, attained, or understood.
⸻
A Song of Mind’s Nature(The Hundred Thousand Songs of Milarepa – Evans-Wentz)
English
I bow down at the feet of the gracious Guru.
Thoughts that arise are the play of the mind;
Mind itself is like the sky.
Though clouds gather and scatter,The sky is never altered.
When desire and aversion arise,Know them to be but mind’s display.
If one does not grasp at them,They are freed where they arise.
Without rejecting appearances,Without clinging to emptiness,
Let mind rest in its own place.
Then all that arises becomes the path.
The one who knows this secretIs never bound by samsara.
In the expanse of unborn awkareness,All afflictions are self-liberated.
Việt :
Con đảnh lễ dưới chân vị Thầy tôn quý.
Những tư tưởng sinh khởi chỉ là sự hiển lộ của tâm;
Tự tâm thì như bầu trời.
Dù mây tụ rồi tan,Bầu trời chưa từng đổi khác.
Khi tham và sân sinh khởi,Hãy biết đó chỉ là sự phô bày của tâm.
Nếu không nắm bắt chúng,Chúng tự giải thoát ngay nơi sinh khởi.
Không xua đuổi các hiện tượng,Không bám chấp vào tánh không,
Hãy để tâm an trụ nơi chính nó.
Khi ấy, mọi sinh khởi đều trở thành con đường.
Người biết bí mật này
Không bao giờ bị luân hồi trói buộc.
Trong không gian của tánh giác vô sinh,
Mọi phiền não đều tự giải thoát.
The Eight Reminders:
Castles and crowded cities are the places Where now you love to stay;
But remember that they will fall in ruins
After you have departed from this earth.
Pride and vainglory are the lure
Which hưu now you love to follow;
But remember, when you are about to die
They offer you no shelter and no refuge!
Kinsmen and relatives are the people With whom now you love to live!
But remember that you must leave them all behind
When from this world you pass away!
Servants, wealth, and children .
Are things that you love to hold;
But remember, at the moment of your death
Your empty hands can take nothing with you!
Vigor and health are dearest to you now;
But remember that at the moment of your death
Your corpse will be bundled up1 and borne away!
Now your organs are clear, your blood and flesh are strong and vigorous;
But remember, at the moment of your death
They will no longer be at your disposal!
Sweet and delicious foods are things That now you love to eat;
But remember, at the moment of your death
Your mouth will let the spittle flow!
When of all this I think, I cannot help
But seek the Buddha’s teachings!
The enjoyments and pleasures of this world,
For me have no attraction.
I, Milarepa, sing of the Eight Reminders,
At the Guest House of Garakhache of Tsang.
With these clear words I give this helpful warning;
I urge you to observe and practice them!
Tiếng Việt:
Lâu đài nguy nga, thành thị đông đúc
Là nơi giờ đây ông ưa thích ở;
Nhưng hãy nhớ: tất cả sẽ hoang tàn đổ nát
Sau khi ông rời khỏi cõi đời này.
Kiêu mạn và hư danh là những cám dỗ
Mà giờ đây ông ưa đuổi theo;
Nhưng hãy nhớ: lúc sắp chết
Chúng chẳng cho ông nơi nương tựa hay che chở nào!
Thân tộc, họ hàng – những người
Giờ đây ông thích sống cùng;
Nhưng hãy nhớ: ông phải bỏ lại tất cả
Khi rời khỏi thế gian này!
Đầy tớ, của cải và con cái…
Những thứ ông yêu thích nắm giữ
Giờ đây tưởng như rất quý;
Nhưng hãy nhớ: vào lúc lâm chung
Đôi tay trống rỗng chẳng mang theo được gì!
Sức lực và sức khỏe là điều
Giờ đây ông trân quý nhất;
Nhưng hãy nhớ: khi đến giờ lâm tử
Thân xác ông sẽ bị bó lại và mang đi!
Nay các cơ quan của ông đều minh mẫn,
Máu thịt mạnh mẽ, tràn đầy sinh lực;
Nhưng hãy nhớ: vào lúc ông sắp chết
Chúng chẳng còn thuộc quyền sử dụng của ông nữa!
Những món ngon ngọt mà ông thích ăn
Giờ đem lại bao nhiêu khoái lạc;
Nhưng hãy nhớ: vào lúc sắp lìa đời
Miệng ông chỉ còn chảy dãi mà thôi!
Nghĩ đến tất cả những điều này,
Ta không thể làm gì khác
Ngoài quay về tìm Giáo Pháp của Đức Phật!
Mọi thú vui và khoái lạc của thế gian
Đối với ta chẳng còn sức hấp dẫn.
Ta, Milarepa, hát Tám Lời Nhắc Nhở này
Ở nhà trọ Garakhache của xứ Tsang.
Bằng những lời rõ ràng này, ta gửi lời cảnh tỉnh;
Ta khuyên ông hãy ghi nhớ và thực hành!
……………………………………………….. Song of Impermanence – Thiền Ca Vô Thường
–ENGLISH
> “Listen, my faithful patrons,This world is transient,
like a rainbow!
The pleasures and pains of this life
Are like dew on the grass
Vanishing in the blink of an eye.
Wealth and glory are like a dream;
Youth and beauty fade like flowers.
Family and friends are like visitors;
Death, the great destroyer, comes without warning.
Meditate, therefore, on the certainty of death
And the uncertainty of its time.
Only Dharma will follow you beyond the grave.
Think of this and practice with earnest heart!”
—TIẾNG VIỆT
> “Hỡi những thiện tín của ta, hãy lắng nghe,
Thế gian này vô thường, như cầu vồng thoáng hiện!
Niềm vui và nỗi khổ của đời người
Như giọt sương trên cỏ —
tan biến trong chớp mắt.
Giàu sang danh vọng như giấc mộng,
Tuổi trẻ và sắc đẹp héo tàn như hoa.
Quyến thuộc, bạn bè — chỉ như khách trọ,
Cái chết, vị khách không mời, đến chẳng báo trước.
Hãy quán tưởng: chết là điều chắc chắn,
Nhưng thời khắc ấy — ai biết được khi nào?Chỉ có Pháp là người bạn trung thành,
Theo ta vượt qua cánh cửa tử sinh.
Hãy nhớ điều này, và tu tập với tâm thành khẩn!”
The Song of the Sun and the Moon(Milarepa’s spontaneous cosmic meditation)
English Original (Garma C.C. Chang translation)
The sun rises in the sky of mind,
And the moon of wisdom shines within.
The stars of concepts fade away,
The clouds of ignorance dissolve.
The thunder of great compassion roars,
The rain of blessings falls without end.
The rainbow of two-in-one appears —
Empty radiance of the Dharmakaya.
Mountains, rivers, the earth itself,
All arise in the space of mind.
When mind is free from clinging thought,
The universe becomes the pure land.
The yogi who knows this truth
Sees no difference between within and without.
The ten thousand stars and galaxies
Are but reflections in his crystal heart.–
– Việt:
Mặt Trời mọc giữa bầu trời của Tâm,
Mặt Trăng của Trí Tuệ chiếu soi bên trong.
Những vì sao – tư tưởng – dần tan biến,
Mây vô minh cũng tự tan hòa.
Sấm đại bi vang rền vô tận,
Mưa gia trì rơi xuống không dừng.
Cầu vồng “hai trong một” hiện ra —
Ánh sáng rỗng không của Pháp Thân.
Núi non, sông suối, đất liền,
Đều sinh khởi trong không gian của Tâm.
Khi tâm thoát khỏi mọi nắm bắt,
Toàn vũ trụ hóa thành Tịnh Độ.
Vị hành giả biết chân lý ấy
Không còn phân trong – ngoài, đây – kia.
Muôn sao và ngân hà vô lượng
Chỉ là phản chiếu trong tim pha lê.—
Giải thích ngắn:
Milarepa không mô tả vũ trụ bằng vật lý, mà bằng tâm lý – tâm linh:
“The sky of mind” = bản tánh không biên giới của tâm.
Mặt Trời tượng trưng cho tánh giác (rigpa).
Mặt Trăng là trí tuệ phản chiếu, dịu mát.
Các vì sao là tư tưởng chập chờn trong đêm vô minh.
Khi mây tan, “vũ trụ trở thành Tịnh Độ” –
không phải vũ trụ thay đổi, mà tâm đã sáng rõ.
The Song of the Sky and the Clouds(Sung while meditating in a mountain cave after the rain)
English:>
The sky, so vast, has no foundation.
The clouds arise and vanish without trace.
The play of light and shadow on the peaks —
All are thoughts within the yogi’s mind.
If you know the sky-like nature of mind,
You know the truth of all appearances.
Việt:>
Trời bao la – không nền, không chỗ dựa.
Mây sinh diệt – không dấu, không tên.
Ánh sáng và bóng trên núi cao —Tất cả là ý niệm trong tâm hành giả.
Ai nhận ra bản tánh như trời của tâm,
Người ấy hiểu được thật tướng vạn pháp.
“The sky, so vast, has no foundation.”>
Trời bao la – không nền, không chỗ dựa.🕊️
Giải thích:Bầu trời tượng trưng cho tánh Không của tâm –
vô biên, không giới hạn, không chỗ nương tựa.
“Không nền” = không có điểm xuất phát cố định (tâm vốn vô sinh).
“Không chỗ dựa” = không có gì chống đỡ nó, nó tự tồn tại như không gian.
➡️ Trong thiền, “trời” chính là Rigpa – tánh biết không điều kiện.
Khi hành giả nhận ra điều này, mọi khái niệm về “ta – người – vật” tan rã.–
-2️⃣ “The clouds arise and vanish without trace.”>
Mây sinh diệt – không dấu, không tên.
🕊️ Giải thích:Mây là ẩn dụ cho tư tưởng và cảm xúc.
Chúng sinh khởi, thay đổi, rồi tan biến, nhưng không bao giờ làm tổn hại bầu trời.
Khi tâm có vọng tưởng, như bầu trời có mây.
Khi vọng tưởng tan, bầu trời vẫn nguyên vẹn.
Milarepa muốn nói: ý nghĩ đến rồi đi – không thật, đừng bám víu.
Nếu không đồng nhất mình với mây, ta sẽ thấy tự do của bầu trời.—
3️⃣ “The play of light and shadow on the peaks —”>
Ánh sáng và bóng trên núi cao —
🕊️ Giải thích:Ánh sáng và bóng là nhị nguyên: tốt – xấu, vui – buồn, sinh – diệt.
Cảnh tượng thay đổi liên tục trên “ngọn núi của hiện hữu”.
Nhưng Milarepa không nói “núi” là thật.
Ông dùng nó như biểu tượng cho thế giới hiện tượng (samsara) – nơi ánh sáng và bóng đùa vui, nhưng tất cả chỉ là phản chiếu trong tâm.—
4️⃣ “All are thoughts within the yogi’s mind.”>
Tất cả là ý niệm trong tâm hành giả.
Giải thích:
Đây là điểm trung tâm của bài ca.
Milarepa khẳng định:> “Cảnh giới bên ngoài chỉ là phản chiếu của tâm.
”Giống như trong mộng, mọi vật đều có vẻ thật nhưng không rời tâm người mơ.
Cũng vậy, núi, mây, ánh sáng, thế giới – tất cả là hiện tướng của tâm.
Vì vậy, hành giả không cần diệt trừ cảnh, chỉ cần nhận ra bản tánh tâm.
The Song of the Full Moon in the Sky of Emptiness
English:> The moon of awareness shines in emptiness,
Clouds of thought drift by and fade.
Those who do not recognize their nature
Wander endlessly in the night.
But those who rest in naked knowing
See the whole universe as light.
Việt:
> Trăng của tỉnh thức chiếu trong hư không,
Mây ý niệm trôi qua rồi tan biến.
Ai không nhận ra bản tánh của mình
Sẽ lang thang trong đêm dài vô tận.
Ai an trú trong biết trần trụi,
Thấy cả vũ trụ là ánh sáng.
The Song of the Four Elements(Earth, Water, Fire, Air — cosmic and bodily unity)
English:> The earth supports all beings;
Likewise, patience sustains the mind.
The water purifies all stains;
Likewise, love purifies anger.
The fire burns and gives warmth;
Likewise, wisdom consumes ignorance.
The wind moves freely in the sky;
Likewise, mind dances in freedom.
Việt:
> Đất nâng đỡ muôn loài;
Cũng như nhẫn nhục nâng tâm an trú.
Nước rửa sạch mọi cấu uế;
Cũng như tình thương rửa sạch sân hận.
Lửa thiêu cháy và sưởi ấm;
Cũng như trí tuệ đốt tan vô minh.
Gió tung bay tự do trong trời rộng;
Cũng như tâm vui chơi trong tự do.
____________________________
The Harvest of Wisdom/Mùa màng trí tuệ
You ordinary folks tame and cultivate the ground,
Use the plow, sow the seeds, nurse your crops,
Harvest your crops, and collect your grains.
But I, the yogi, farm in an entirely different style.
The ground I work with is the alayavijnana.*2
To tame this ground, instead of using an ordinary plow,
I use my discipline to cut through ego.
The seed I sow is the seed of bodhi mind,
And the crop I grow is the crop of wisdom.-
–Việt –
Những người bình thường các ông thuần phục và canh tác đất,
Dùng cày, gieo hạt, chăm sóc mùa màng,
Thu hoạch mùa màng, và gom góp hạt thóc.
Nhưng ta, vị hành giả du già, lại cày cấy theo cách hoàn toàn khác.
Mảnh đất ta canh tác chính là alaya-vijnana (tàng thức).*2
Để thuần phục mảnh đất này, thay vì dùng chiếc cày bình thường,
Ta dùng giới luật và kỷ luật để cắt đứt bản ngã.
Hạt giống ta gieo chính là hạt giống của tâm bồ-đề,
Và mùa màng ta gặt hái chính là mùa màng của trí tuệ.-
–Chú thích*2: Alaya-vijnana (Phạn: Ālayavijñāna, Hán: 阿賴耶識, Việt: Tàng thức) – còn gọi là thức thứ tám trong Duy Thức học.
Đây là “kho chứa” hay “căn bản thức”, nơi tích tập tất cả các chủng tử (hạt giống) của nghiệp và kinh nghiệm.
Mọi hiện tượng sinh khởi đều nương vào tàng thức này, và nhờ tu tập mà những hạt giống bất thiện được chuyển hóa thành trí tuệ giải thoát.
Bài Ca về thiền
Hearken, my rich Lesebum With sparkling intelligence! When you turn back and look into your body, Meditate without craving for pleasures. When you turn back and look into your mouth, Meditate in silence and in quiet. When you turn back and look into your mind, Meditate without wavering thoughts. Keep body, mouth, and mind from distractions, And try to practice without practicing.
Việt Lắng nghe, hỡi Lesebum giàu có của ta, Với trí tuệ sáng ngời! Khi quay lại nhìn vào thân, Hãy thiền định không ham muốn khoái lạc. Khi quay lại nhìn vào miệng, Hãy thiền định trong lặng im và tĩnh lặng. Khi quay lại nhìn vào tâm, Hãy thiền định không để ý nghĩ dao động. Giữ thân, khẩu, ý khỏi tán loạn, Và hãy cố gắng thực hành mà như không thực hành.
Bài Ca về Sinh, Lão, Bệnh, Tử./Song of Birth, Aging, Sickness and Death
–In the river of birth, decay, illness,And death
we worldly beings are submerged;
Who can escape these pains on earth?
Trong dòng sông sinh, diệt, bệnh, già,Và cái chết,
chúng sinh đều bị cuốn trôi;
Ai có thể thoát khỏi khổ đau nơi cõi đời?
We drift on with the tide.
AmidstWaves of misery and darkness
We flow on and on. Seldom inSaṃsāra can one find joy.
Chúng ta trôi theo dòng nước,
Giữa những đợt sóng khổ đau và bóng tối.
Ta trôi lên, trôi xuống,
hiếm khi nàoTrong luân hồi lại tìm được an vui.
More miseries come by trying to avoid them;
Through pursuing pleasures one’s sins increase.
To be free from pain, wrongDeeds should be shunned.
Càng trốn chạy khổ đau,Khổ đau lại càng nhiều hơn;
Theo đuổi khoái lạc, tội lỗi lại tăng.
Muốn thoát khỏi đau khổ,
Việc sai trái phải tránh xa.
When death draws near,
the wiseAlways practice Dharma.
Khi cái chết đến gần,
Người trí luôn hành trì Pháp.
—The wanderer in the Bardo planeIs the Alaya Consciousness.
Driven by lust and hatredIt enters a mother’s womb.
Kẻ lữ hành trong cảnh giới Trung ấmChính là A-lại-da thức.
Bị thúc đẩy bởi tham và sân,
Nó đi vào trong bụng mẹ.
—Therein it feels like a fishIn a rock’s crevice caught.
Sleeping in blood and yellow fluid,
It is pillowed in discharges;
Crammed in filth, it suffers pain.
A bad body from bad Karma’s born.,
Ở trong đó, nó cảm thấy như cá
Bị mắc kẹt trong khe đá.
Ngủ trong máu và dịch vàng,
Gối đầu trên những chất tiết ra;
Bị nhồi nhét trong uế trược, nó chịu khổ đau.
Một thân xấu từ nghiệp xấu được sinh ra.
—Though
remembering past lives,It cannot say a single word.
Now scorched by heat,Now frozen by the cold,
In nine months it emergesFrom the womb in pain
Excruciating,
as ifPulled out gripped by pliers.
Dù còn nhớ những đời trước,
Nó không thể thốt một lời.
Lúc thì bị thiêu đốt bởi nóng,
Lúc lại bị đông cứng vì lạnh.
Chín tháng sau, nó ra đời
Từ bụng mẹ trong đau đớn,
Thống khổ như thể
Bị kìm sắt kéo bật ra ngoài.
—When from the womb its head is squeezed,
the painIs like being thrown into a bramble pit.
The tiny body on the mother’s lap,
Feels like a sparrow grappled by a hawk.
Khi từ bụng mẹ, đầu nó bị ép chặt,
Cơn đau như bị quăng vào hầm đầy gai.
Thân thể nhỏ bé trên lòng mẹ,
Cảm thấy như chim sẻ bị diều hâu vồ lấy.
—When from the baby’s tender body
The blood and filth are being cleansed,
The pain is like being flayed alive.
When the umbilical cord is cut,
It feels as though the spine were severed.
Khi từ thân non nớt của đứa trẻ
Máu và dơ bẩn được lau sạch,
Nỗi đau như bị lột da khi còn sống.
Khi cuống rốn bị cắt,
Nó cảm thấy như xương sống bị chặt lìa.
—When wrapped in the cradle it feels boundBy chains,
imprisoned in a dungeon.
Khi được quấn trong nôi, nó cảm thấy
Như bị xiềng xích,
giam trong ngục tối.
—He who realizes not the truth of No-arising,
Never can escape from the dread pangs of birth.
Ai không chứng ngộ chân lý Vô sinh,
Sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi cơn thống khổ của sinh.
—There is no time to postpone devotion:
Không còn thời gian để trì hoãn sự tinh tấn:
p554.
When one dies one’s greatest needIs the divine Dharma.
You should then exert yourselfTo practice Buddha’s teaching.
Khi một người chết, điều cần thiết nhấtChính là Thánh Pháp.
Vậy nên con hãy nỗ lực hết sức
Để thực hành lời dạy của Đức Phật.
—Shindormo asked again,
“Please preach for us the sufferings of old age.”
In response, the Jetsun sang:
Shindormo lại thưa:
“Xin ngài giảng cho chúng tôi về nỗi khổ của tuổi già.
” Đáp lại, Jetsun (Milarepa) hát rằng:
—Listen, my good patrons, listenTo the sufferings of old age.
Hãy lắng nghe, hỡi những thí chủ tốt lành,
Hãy lắng nghe nỗi khổ của tuổi già.
—Painful is it to see one’s bodyBecoming frail and quite worn out.
Who can help but feel dismayedAt the threat of growing old?
Thật đau buồn khi thấy thân nàyNgày càng yếu ớt, tàn tạ.
Ai có thể không xót xa,Khi đối diện bóng dáng tuổi già?
—When old age descends upon one,
His straight body becomes bent;
When he tries to step firmly,He staggers against his will;
His black hairs turn white,His clear eyes grow dim;
His head shakes with dizziness,And his keen ears turn deaf;
His ruddy cheeks grow pale,And his blood dries up.
Khi tuổi già đổ xuống,Thân ngay thẳng trở nên còng cong;
Muốn bước đi cho vững,Nhưng chân run lẩy bẩy không theo ý;
Tóc đen hóa bạc,Mắt sáng hóa mờ;
Đầu lắc lư vì chóng mặt,Tai thính hóa điếc đặc;
Má đỏ hồng nay tái nhợt,Huyết khí khô cạn dần.
—His nose – the pillar of his face – sinks in;His teeth
– the essence of his bones – protrude.
Losing control of tongue, he stammers.
On the approach of death, his anguish and debts grow.
Mũi – trụ cột khuôn mặt – sụt xuống;Răng
– tinh túy của xương – trồi ra.
Mất kiểm soát lưỡi, ông nói lắp bắp.
Cái chết gần kề, khổ đau và món nợ tăng thêm.
—He gathers food and friends,
But he cannot keep them;
Trying not to suffer,He only suffers more;
When he tells the truth to people,
Seldom is he believed;
The sons and nephews he has raised
And cherished,
oft become his foes.
He gives away his savings,But wins no gratitude.
Ông gom góp thức ăn và bạn bè,
Nhưng chẳng giữ được bao lâu;
Cố gắng để không khổ,
Nhưng chỉ thêm khổ nhiều hơn;
Khi ông nói sự thật với người đời,Hiếm ai chịu tin;
Những con cháu ông từng nuôi dưỡng,
Yêu thương, lại thường hóa thành kẻ thù.
Unless you realize the truth of Non-decay,
You will suffer misery in old age.
He who when old neglects the Dharma,
Should know that he is bound by Karma.
It is good to practice the DivineDharma while you still can breathe.
Nếu không chứng ngộ chân lý của Vô hoại,
Ngươi sẽ khổ đau trong tuổi già.
Ai khi về già mà bỏ quên Chánh Pháp,
Hãy biết rằng mình bị nghiệp trói buộc.
Thật tốt đẹp nếu tu tập Thánh Pháp
Ngay khi còn thở được trong đời.
Unless you realize the truth of Non-decay,
You will suffer misery in old age.
He who when old neglects the Dharma,
Should know that he is bound by Karma.
It is good to practice the DivineDharma while you still can breathe.
Nếu không chứng ngộ chân lý của Vô hoại,
Ngươi sẽ khổ đau trong tuổi già.
Ai khi về già mà bỏ quên Chánh Pháp,
Hãy biết rằng mình bị nghiệp trói buộc.
Thật tốt đẹp nếu tu tập Thánh PhápNgay khi còn thở được trong đời.
—Shindormo then said, “What you have just told us is very true;
I have experienced these things myself.
Sickness :
Now please preach for us the sufferings of sickness.”
In reply, Milarepa sang:
Shindormo thưa: “Những điều ngài vừa giảng thật quá đúng;
chính tôi cũng đã trải qua.
Giờ xin ngài hãy giảng cho chúng tôi về nỗi khổ của bệnh tật.”
Milarepa đáp lại bằng bài ca:
—Dear patrons, you who know grief and sorrow,
Listen to the miseries of sickness.
Hỡi các thí chủ, những người đã nếm mùi sầu khổ,
Hãy lắng nghe nỗi khổ của bệnh tật.
—This frail body is subject e’er to sickness,
So that one suffers excruciating pain.
The illnesses of Prāṇa, mind, gall, and phlegmConstantly invade
this frail human body,Causing its blood and matter to be heated;
The organs are thus gripped by pain.
Thân yếu đuối này luôn bị bệnh hoạn,
Khiến con người chịu đựng thống khổ cùng cực.
Những bệnh của khí, tâm, mật, và đàm,
Không ngừng xâm chiếm thân thể mong manh,
Làm máu huyết và vật chất trong người nóng rát;
Nội tạng vì thế bị siết chặt trong đau đớn.
—In a safe and easy bedThe sick man feels no comfort,
But turns and tosses, groaning in lament.
Through the Karma of [past] meanness,
Though with best of food you feed him,
He vomits all that he can take.
Nằm trên giường êm ấm,
Người bệnh chẳng tìm được an lạc,
Chỉ trở mình than vãn, rên xiết.
Vì nghiệp xấu [quá khứ] đã gieo,
Dù có dâng cho thức ăn ngon nhất,
Ông nôn mửa tất cả chẳng giữ được gì.
—When you lay him in the cool,
He stills feels hot and burning;
When you wrap him in warm cloth,
He feels cold as though soaked in sleet.
Khi đặt ông trong chỗ mát,
Vẫn cảm thấy nóng bỏng;
Khi quấn ông trong vải ấm,
Lại thấy lạnh như ngâm trong băng giá.
—Though friends and kinsmen gather round,
None can relieve or share his pains.
Though warlocks and physicians are proficient,
They cannot help cases caused by Ripening Karma.
Dù bạn bè, thân quyến vây quanh,
Không ai có thể gánh hay chia đau khổ.
Dù thầy phù thủy hay y sĩ tài giỏi,
Cũng không thể cứu chữa bệnh do nghiệp chín muồi.
—He who has not realized the truth of No-illness,
Much suffering must undergo.
Ai chưa chứng ngộ chân lý Vô bệnh,
Sẽ phải chịu nhiều khổ não.
—Since we know not when sicknesses will strike,
It is wise to practice Holy Dharma
–The sure conqueror of illness!
Bởi ta không biết khi nào bệnh tật sẽ đến,
Thì khôn ngoan nhất là tu tập Thánh Pháp
Đấng chắc chắn hàng phục bệnh .
Death :
Shindormo, “Now please preach for me the suffering of death.”
In answer, Milarepa sang:Shindormo thưa:
“Xin ngài giảng cho tôi về nỗi khổ của cái chết.
” Milarepa đáp lại bằng bài ca:
—Listen, my disheartened patroness:
Like the pain of repaying compound debts,
One must undergo the suffering of death.
Yama’s guards catch and carry oneWhen the time of death arrives.
Hãy lắng nghe, hỡi thí chủ buồn khổ:
Như nỗi đau khi phải trả món nợ chồng chất,
Con người buộc phải chịu khổ của cái chết.
Khi giờ chết đến gần,
Ngục tốt của Diêm Vương sẽ bắt và lôi đi.
—The rich man cannot buy it off with money,
With his sword the hero cannot conquer it,
Nor can the clever woman outwit it by a trick.
Even the learned scholar cannotPostpone it with his eloquence.
Người giàu không thể dùng tiền mua chuộc,
Anh hùng không thể dùng gươm kiếm để thắng,
Người đàn bà khôn khéo cũng chẳng thể dùng mưu lừa.
Ngay cả bậc học giả uyên thâmCũng chẳng thể trì hoãn bằng lời biện luận.—Here, no coward like a fox can sneak away;
Here, the unlucky cannot make appeal,
Nor can a brave man here display his valor.
Ở đây, kẻ hèn nhát như cáo không thể lẩn trốn;
Ở đây, kẻ bất hạnh không thể kháng cầu;
Người dũng cảm cũng chẳng thể phô bày sức mạnh.
—When all the Nāḍis converge in the body,
One is crushed as if between two mountains
—All vision and sensation become dim.
When Bön priests and diviners become useless,
The trusted physician yields to his despair.
Khi các kinh mạch hội tụ trong thân,
Con người bị nghiền ép như giữa hai ngọn núi
—Mọi thị giác và cảm giác đều mờ dần.
Các thầy Bön và thầy bói trở nên vô dụng,
Ngay cả y sĩ đáng tin cũng buông xuôi trong tuyệt vọng.
—None can communicate with the dying man,
Protecting guards and Devas vanish into nought.
Though the breath has not completely stopped,
One can all but smell the stale odor of dead flesh.
Like a lump of coal in chilly ashesOne approaches to the brink of death.
Không ai còn có thể trò chuyện với kẻ hấp hối,
Các vị hộ thần, chư thiên đều tan biến thành hư không.
Dù hơi thở chưa hoàn toàn dừng lại,
Người ta đã ngửi thấy mùi tử thi bốc lên.
Như cục than vùi trong tro lạnh,
Người ấy bước gần đến bờ của cái chết.
—When dying, some still count the dates and stars;
Others cry and shout and groan;
Some think of worldly goods;
Some that their hard-earned wealthWill be enjoyed by others.
Khi sắp chết, có người còn đếm ngày tháng và sao trời;
Có kẻ gào khóc than van;
Có người nghĩ đến của cải trần gian;
Có kẻ than rằng tài sản cực khổ tích gópSẽ bị người khác hưởng thụ.—However deep one’s love or great one’s sympathy,
He can but depart and journey on alone.His good friend and consortCan only leave him there;
In a bundle, his beloved bodyWill be folded and carried off,
Then thrown in water, burned in fire,Or simply cast off in a desolate land.
Dù tình yêu có sâu nặng, hay sự cảm thông có lớn lao,
Người ấy cũng chỉ ra đi một mình.
Bạn hiền hay người bạn đời thân thiếtCũng chỉ có thể bỏ lại nơi đây.
Thân xác yêu quý, gói lại trong tấm vải,Sẽ bị mang đi xa,Rồi quăng xuống nước, thiêu trong lửa,
P557
next coming soon…
Song of Guarding the Mind-Bài ca Canh Giữ Tâm
The Devas of Heaven said,“In ignorant beings like us, the Kleśas always follow the mind.
Pray give us a teaching with which we can correct this fault,
so we may depend upon it and practice it frequently.
”Chư thiên nữ thưa rằng:“Trong hạng chúng sinh mê muội như chúng con, phiền não luôn bám lấy tâm.
Xin Ngài ban cho chúng con một pháp tu để sửa chữa lỗi này,
để chúng con có thể nương tựa vào đó và thường xuyên thực hành.”
In response to their request, Milarepa sang:
Đáp lại lời thỉnh cầu, Milarepa cất tiếng ca:
Obeisance to Marpa, the gracious one!Pray grant me the blessing of virtuous remedy.
Đảnh lễ Marpa, bậc từ ái!Xin Ngài ban cho con ân phúc của phương thuốc thiện lành.
Should you, oh faithful lady Devas, intend to practice the Dharma often,
Inwardly you should practice concentration and contemplation.
The renunciation of external affairs is your adornment.
Hỡi các thiên nữ chí thành, nếu các nàng muốn thường xuyên hành Pháp,
Thì hãy nội tâm thực tập định tâm và quán chiếu.
Xả bỏ việc đời bên ngoài chính là trang sức của các nàng.
Oh, bear in mind this remedy for external involvement!
With self-composure and mindfulness, you should remain serene.
Glory is the equanimity of mind and speech!Glory is the resignation from many actions!
Hãy ghi nhớ phương thuốc này đối trị sự dính mắc bên ngoài!
Với tự chủ và chánh niệm, các nàng nên an nhiên.
Vinh quang chính là sự bình thản của tâm và lời nói!Vinh quang chính là sự buông bỏ nhiều hành động!
Should you meet disagreeable conditions,Disturbing to your mind,
Keep watch upon yourself and be alert;Keep warning yourself:
Nếu gặp phải những cảnh trái ý,Làm xao động tâm mình,
Hãy luôn soi lại chính mình và giữ tỉnh giác;
Hãy luôn tự nhắc nhở:
The danger of anger is on its way.”
“Hiểm họa của sân hận đang kéo đến.
”When you meet with enticing wealth,
Khi bạn đối diện với sự giàu sang hấp dẫn,
Keep watch upon yourself and be alert;
Hãy giữ gìn chính mình và tỉnh giác;
Keep a check upon yourself:
Hãy tự nhắc nhở mình rằng:
“The danger of craving is on its way.”
“Hiểm họa của tham dục đang đến gần.”
—Should hurtful, insulting words come to your ears,
Khi những lời lẽ xúc phạm, làm tổn thương vang đến tai,
Keep watch upon yourself and be alert,
Hãy giữ gìn chính mình và tỉnh giác,
And so remind yourself:Và tự nhắc nhở rằng:
“Hurtful sounds are but delusions of the ear.”
“Những âm thanh khó chịu chỉ là vọng tưởng của tai mà thôi.”
—When you associate with your friends,
Khi bạn kết giao cùng bằng hữu,
Watch carefully and warn yourself:
Hãy quan sát kỹ và tự cảnh tỉnh:
“Let not jealousy in my heart arise.”
“Chớ để lòng ghen tỵ khởi sinh trong tim ta.”
—When you are plied with services and offerings,
Khi bạn được cung phụng và dâng hiến,
Be alert and warn yourself:
Hãy tỉnh giác và tự cảnh báo:
“Let me beware, lest pride should spring up in my heart.”
“Hãy cảnh giác, kẻo niềm kiêu mạn trỗi dậy trong tim ta.”
—At all times, in every way, keep watch upon yourself.
Mọi lúc, mọi nơi, hãy giữ gìn chính mình.
At all times try to conquer the evil thoughts within you!
Mọi lúc, hãy cố gắng chế ngự những ý nghĩ bất thiện trong ta!
Whatever you may meet in your daily doings,
Dù trong sinh hoạt thường nhật gặp bất cứ điều gì,
You should contemplate its void and illusory nature.
Hãy quán chiếu bản chất trống rỗng và huyễn ảo của nó.
—Were even one hundred saints and scholars gathered here,
Dù có một trăm bậc thánh nhân và học giả cùng nhóm lại nơi đây,
More than this they could not say.
Cũng không thể nói được gì hơn thế này.
May you all be happy and prosperous!
Nguyện cho các bạn đều hạnh phúc và thịnh vượng!
May you all, with joyful hearts,
Nguyện cho tất cả, với tâm hoan hỷ,
Devote yourselves to the practice of the Dharma!
Hết lòng tu tập theo Chánh Pháp!
p555
Unless you realize the truth of Non-decay,
You will suffer misery in old age.
He who when old neglects the Dharma,
Should know that he is bound by Karma.
It is good to practice the DivineDharma while you still can breathe.
Nếu không chứng ngộ chân lý của Vô hoại,
Ngươi sẽ khổ đau trong tuổi già.
Ai khi về già mà bỏ quên Chánh Pháp,
Hãy biết rằng mình bị nghiệp trói buộc.
Thật tốt đẹp nếu tu tập Thánh PhápNgay khi còn thở được trong đời.
next coming soon
WHEN DEATH CAME TO ASK- KHI CÁI CHẾT GÕ CỬA
Một hành giả trẻ đến gặp Milarepa, lo lắng về cái chết đang đến gần.
A young yogi approached Milarepa, troubled by the thought of death.>
**“Master, how can I face death?
”Bạch Thầy, con phải đối mặt với cái chết như thế nào?
“It seems like the end—dark and cold.
”Nó dường như là sự chấm hết – tối tăm và lạnh lẽo.”–
-Milarepa mỉm cười, ánh mắt như không gian trong vắt, và cất tiếng hát:
Milarepa smiled, his gaze clear as space, and began to sing:–
-“The Song of the Doorway”
“Bài Ca Cánh Cửa”>
**“Death is not the enemy,
Cái chết không phải là kẻ thù,
But the final illusion.
Mà là ảo ảnh cuối cùng.
It strips away all you are not,
Nó lột bỏ hết những gì con không phải,
And leaves only the light you’ve always been.
”Để lại chỉ ánh sáng mà con luôn là.
”**—> **“The body falls like worn-out cloth,
Thân xác rơi xuống như áo cũ,
But the mind, if unbound,
Nhưng tâm, nếu không bị trói,
Flies like a swan into open space.
”Sẽ bay như thiên nga vào bầu trời rộng mở.
”**—> **“Don’t cling to the flickering lamp,
Đừng bám vào ngọn đèn chập chờn,
You are the dawn behind it.
Con chính là bình minh phía sau nó.
Don’t mourn the setting sun,
Đừng buồn ánh mặt trời lặn,
You are the sky that never sets.
”Con là bầu trời chẳng bao giờ lặn tắt.
”**—The yogi bowed low. He had not defeated death—
but he no longer feared it.
Người hành giả cúi đầu thật thấp.Anh không đánh bại cái chết –
nhưng không còn sợ nó nữa
Song to the Scholar Lost in Knowledge
Bài Ca Gửi Vị Đạo Sĩ Mê Lạc Trong Kiến Thức–
Englis&Vietnamese
-A learned scholar, carrying stacks of sacred texts, approached Milarepa
:Một đạo sĩ uyên bác, ôm theo những chồng kinh điển, bước đến gặp Milarepa:-
–“Master, I have read countless scriptures, memorized sutras, and debated with wise men.
“Thưa Ngài, con đã đọc vô số kinh điển, thuộc lòng các bài kinh, và tranh luận với nhiều bậc trí.
Yet my mind is restless, and I feel no closer to liberation.
Nhưng tâm con vẫn bất an, và con không thấy mình gần giải thoát hơn.
What am I missing?”Con còn thiếu điều gì?”–
-Milarepa looked at him with eyes like clear sky and said:
Milarepa nhìn ông với đôi mắt trong như bầu trời và nói:–
-“You have filled your mind with words and concepts,
“Ngươi đã chất đầy tâm mình bằng chữ nghĩa và khái niệm,
But the one reading, debating, and remembering—can you find him?
Nhưng kẻ đang đọc, đang tranh luận, đang ghi nhớ ấy – ngươi có tìm thấy không?”–
-He sang:
Ngài hát:—
“Books are fingers pointing to the moon,
“Kinh sách là những ngón tay chỉ trăng,
But the moon does not dwell in pages.
Nhưng trăng không nằm trong trang giấy.
The knowing that reads is beyond words
—Cái biết đang đọc thì vượt ngoài lời chữ
—It neither comes nor goes.
”Nó không đến không đi.”—
“You seek wisdom in words,
“Ngươi tìm trí tuệ trong lời chữ,
But wisdom lives where thought dissolves.
Nhưng trí tuệ sống nơi ý nghĩ tan rã.
Drop the texts for a moment,
Hãy buông kinh sách một thoáng,
And rest in the reader.
”Và an nghỉ nơi người đang đọc.”–
-The scholar protested softly:
Đạo sĩ khẽ phản đối:
“But without study, how can one gain understanding?”
“Nhưng không học thì sao có hiểu biết?”—
Milarepa replied:
Milarepa đáp:—
“Understanding is like ice melting into water.“
Hiểu biết như băng tan vào nước.
Drop concepts and see—
Hãy buông khái niệm và nhìn—
Clarity has always been here.
”Sự sáng tỏ vốn luôn ở đây.”–
-He continued:
Ngài hát tiếp:—
“True wisdom is not accumulated,
“Trí tuệ thật không phải thứ tích lũy,
It is uncovered when the mind falls silent.
Mà là thứ lộ ra khi tâm im lặng.
Rest as awareness itself,
An nghỉ như chính tánh biết,
And all scriptures will be within you.
”Và mọi kinh sách sẽ nằm trong ngươi.”–
-The scholar’s eyes grew moist as he set down his books,
Đôi mắt đạo sĩ rưng rưng khi ông đặt chồng kinh xuống,
“For all my learning, I never thought to look at the one who learns.”
“Cả đời học hỏi, con chưa từng nghĩ nhìn vào kẻ đang học.”
THE UNION OF MIND AND SPACE/ HÒA NHẤT GIỮA TÂM VÀ KHÔNG GIAN
English & Vietnamese
Milarepa sat before a student who was struggling with thought.
Milarepa ngồi trước một đệ tử đang vật lộn với dòng tư tưởng.
> **“I try to silence the mind,” said the student.
Con cố làm cho tâm yên lặng, người học trò nói.
“But it keeps returning—like waves.
”Nhưng nó cứ trở lại – như sóng vậy.
”**—Milarepa smiled and sang:
Milarepa mỉm cười rồi cất tiếng hát:
“The Song of No Separation”
“Bài Ca Không Còn Hai”> **
“Space does not fear the wind,
Không gian không sợ gió,
Nor does the sky resist the clouds.
Trời không kháng cự mây bay.
Mind is like space—
Tâm như không gian –
What appears within it does not harm it.
”Những gì hiện khởi trong đó chẳng làm hại được nó.
”**—> **“Thoughts come and go—
Ý nghĩ đến rồi đi
–Let them.
Hãy để chúng đi.
Do not grab, do not chase.
Đừng nắm lấy, đừng đuổi theo.
Let them rise like smoke,
Hãy để chúng nổi lên như khói,
And vanish like mist in the sun.
”Rồi tan như sương trong nắng.
”**—> **“When you stop naming,
Khi con ngừng gọi tên,
The world becomes simple.
Thế giới trở nên đơn giản.
When you stop choosing,
Khi con ngừng chọn lựa,
Peace arrives naturally.
”Bình an tự nhiên hiện ra.
The student closed his eyes. He stopped fighting.
And in that moment—he vanished into the sky-like mind.
Người học trò khép mắt lại. Anh không còn kháng cự.
Và trong khoảnh khắc đó – anh tan vào tâm như bầu trời.
Six Words That Sum It All Up / Sáu lời Cốt Tủy của Milarepa
English & Vietnames
Do you know what appearances are like?
If you don’t know what appearances are like Whatever appears is an appearance
Not realized, they are samsara Realized, they are Dharmakaya
When appearances as Dharmakaya shine
There’s no other view to look for There’s no other view to find
Ngươi có biết vạn tượng là gì chăng?
Nếu chẳng biết vạn tượng là gì,thì mọi thứ hiện ra chỉ là tướng trạng.
Không nhận ra – đó là luân hồi,Nhận ra – chính là Pháp Thân.
Khi thấy mọi hiện tượng rực sáng như Pháp Thân,
không còn có cái nhìn nào khác để tìm,
không còn có cái thấy nào khác để bám.
Do you know how to rest your mind?
If you don’t know how to rest your mind Without thoughts jumping all around
Let your mind rest uncontrived Rest with a child’s independence
Rest like an ocean free of waves
Rest with a candle flame’s clarity Rest like a corpse,
without arrogance Rest like a mountain, so still There simply is no name for what mind is really like.
Ngươi có biết để tâm an nghỉ thế nào chăng?
Nếu chẳng biết để tâm an nghỉ,thì đừng để ý niệm chạy nhảy khắp nơi.
Hãy để tâm nghỉ ngơi không gượng ép,nghỉ như đứa trẻ tự nhiên vô tư,
nghỉ như đại dương không sóng gợn,
nghỉ như ngọn đèn sáng tỏ bất động,nghỉ như tử thi không kiêu mạn,
nghỉ như núi đá lặng yên.
Thật ra, không một danh từ nào gọi đúng bản tâm.
Do you know how experiences shine?
If you don’t know how experiences shine
They’re like the sun waking up the night
You don’t need to throw thoughts away No ground,
just like in a dream No fixation, like a water moon Nothing really there,
like a rainbow Directionless, like the open sky
That is how experiences shine
Ngươi có biết kinh nghiệm tỉnh thức hiển lộ thế nào chăng?
Nếu chẳng biết kinh nghiệm tỉnh thức hiển lộ,hãy nhìn: như mặt trời xua tan đêm tối.
Không cần xua đuổi ý nghĩ,không nền tảng –
như giấc mơ,không bám chấp – như trăng đáy nước,không thực thể –
như cầu vồng,không phương hướng –
như bầu trời mở rộng.Đó chính là cách kinh nghiệm tỉnh thức hiển lộ.